Từ tháng 4-2026, nhiều chính sách pháp luật mới liên quan dịch vụ thanh toán, giáo dục, phòng cháy chữa cháy, chuyển giao công nghệ, kiện toàn tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp… sẽ chính thức đi vào đời sống, tác động trực tiếp đến đông đảo người dân và tổ chức, doanh nghiệp.

  1. Siết chặt giao dịch qua tài khoản ngân hàng

Quy định về cung ứng dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam sửa đổi, bổ sung tại Thông tư 30/2025, yêu cầu dùng tên thật cho tài khoản ngân hàng.

Theo đó, khoản 2 điều 12 và khoản 5 điều 7 Thông tư 30/2025 bổ sung yêu cầu ngân hàng phải kiểm tra, kiểm soát lệnh thanh toán hợp pháp, hợp lệ. Trong đó, phải bảo đảm tên tài khoản đúng với tên thật trong căn cước công dân/thẻ căn cước tại thỏa thuận mở, sử dụng tài khoản thanh toán của khách hàng khi thực hiện giao dịch thanh toán ở ngân hàng; đồng thời, phải hiển thị đầy đủ trên chứng từ thanh toán.

Thông tư 30/2025 chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 01/4/2026.

  1. Tăng cường chế tài vi phạm phòng cháy chữa cháy

Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 69/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 106/2025/NĐ-CP ngày 15/5/2025 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ.

Trong đó, Nghị định số 69/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung khoản 4 Điều 6 theo hướng, phạt tiền từ 6.000.000 đồng đến 8.000.000 đồng đối với hành vi tổ chức, cá nhân sử dụng đối tượng quy định tại các điểm c, d, đ, e và điểm g khoản 1 Điều 45 Luật phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ thực hiện nhiệm vụ phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ nhưng chưa có văn bản thông báo kết quả huấn luyện nghiệp vụ phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ.

Bên cạnh đó, Nghị định số 69/2026/NĐ-CP đã sửa đổi, bổ sung Điều 29 về thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính. Theo đó, người có thẩm quyền xử phạt quy định từ Điều 30 đến Điều 36a Nghị định này có thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính đối với các hành vi vi phạm đã được phân định thẩm quyền xử phạt cho cơ quan mình theo quy định tại Điều 37 Nghị định này.

Người được giao nhiệm vụ thanh tra, kiểm tra, công chức, viên chức thuộc cơ quan quy định tại các Điều 30 và Điều 36a Nghị định này đang thi hành công vụ, nhiệm vụ có thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính đối với các hành vi vi phạm thuộc lĩnh vực quản lý của mình và phạm vi công vụ, nhiệm vụ được giao.

Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 20/4/2026.

  1. Điều kiện để miễn thi tốt nghiệp THPT môn ngoại ngữ

Quy chế thi tốt nghiệp THPT năm 2026 được Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo sửa đổi, bổ sung tại Thông tư 13/2026.

Thông tư 13/2026 ban hành kèm theo Phụ lục I – danh mục những chứng chỉ ngoại ngữ được dùng để miễn thi môn ngoại ngữ khi xét tốt nghiệp THPT 2026. Theo đó, từ ngày 24/4/2026, danh mục này bổ sung 2 chứng chỉ được miễn thi ngoại ngữ là tiếng Hàn TOPIK và tiếng Anh quốc tế Versant English Placement Test (VEPT).

Với Thông tư 13/2026, số chứng chỉ được chấp nhận dùng để miễn thi ngoại ngữ khi xét tốt nghiệp THPT 2026 được nâng lên 22, gồm chứng chỉ các ngôn ngữ: tiếng Anh, tiếng Nga, tiếng Pháp, tiếng Trung, tiếng Đức, tiếng Nhật và tiếng Hàn. Các chứng chỉ này phải còn hiệu lực đến thời điểm thí sinh làm thủ tục dự thi tốt nghiệp THPT.

  1. Hoàn thiện bộ máy HĐND các cấp trước ngày 01/4/2026

Chỉ thị 08 về việc tổ chức kỳ họp thứ nhất HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026-2031 và nâng cao hiệu quả hoạt động chính quyền địa phương 2 cấp đã được Thủ tướng Chính phủ ký ban hành ngày 17-3-2026.

Theo Chỉ thị 08, Thủ tướng đề nghị Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Thành ủy chuẩn bị tốt công tác nhân sự, bảo đảm bộ máy HĐND các cấp đi vào hoạt động chậm nhất ngày 1-4-2026. Trường hợp chưa thể tổ chức kỳ họp trước ngày 31-3-2026 do chưa bố trí được nhân sự chủ tịch HĐND cấp tỉnh, địa phương phải báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định.

Chậm nhất là đến 17 giờ ngày 31-3-2026, Bộ Nội vụ phải đôn đốc Thường trực HĐND cấp tỉnh hoàn thiện hồ sơ trình phê chuẩn kết quả bầu chủ tịch, phó chủ tịch UBND và chủ tịch, phó chủ tịch HĐND cấp tỉnh.

  1. Nhiều ưu đãi với dự án FDI có chuyển giao công nghệ

Nội dung này được quy định tại Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chuyển giao công nghệ, được Quốc hội Khóa XV thông qua năm 2025.

Theo đó, điểm c khoản 2 điều 1 Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chuyển giao công nghệ đã bổ sung chính sách của nhà nước đối với hoạt động chuyển giao công nghệ. Cụ thể, ưu tiên chính sách ưu đãi về thuế, đất đai, tín dụng… với dự án có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) có nội dung chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực, phát triển năng lực nghiên cứu, thiết kế, chế tạo hoặc ứng dụng công nghệ tại Việt Nam. Bên cạnh đó, khuyến khích tổ chức, cá nhân nước ngoài chuyển giao công nghệ cho tổ chức, cá nhân Việt Nam nhằm nâng cao năng lực tiếp thu, làm chủ và đổi mới công nghệ trong nước.

Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chuyển giao công nghệ chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 01/4/2026.

  1. Hình thức xử phạt trục xuất đối với người nước ngoài vi phạm pháp luật Việt Nam

Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 59/2026/NĐ-CP quy định hình thức xử phạt trục xuất, biện pháp tạm giữ người, áp giải người vi phạm theo thủ tục hành chính và quản lý người nước ngoài vi phạm pháp luật Việt Nam trong thời gian làm thủ tục trục xuất.

Nghị định quy định về đối tượng áp dụng, thủ tục áp dụng hình thức xử phạt trục xuất; quyền, nghĩa vụ của người bị áp dụng hình thức xử phạt trục xuất; biện pháp quản lý người nước ngoài vi phạm pháp luật Việt Nam trong thời gian làm thủ tục trục xuất và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức thi hành hình thức xử phạt trục xuất.

Đối tượng áp dụng, thủ tục tạm giữ người, áp giải người vi phạm theo thủ tục hành chính; các trường hợp áp dụng biện pháp tạm giữ người, áp giải người vi phạm theo thủ tục hành chính; quyền và nghĩa vụ của người bị áp dụng biện pháp tạm giữ người, áp giải người vi phạm theo thủ tục hành chính.

Những quy định khác có liên quan đến việc áp dụng hình thức xử phạt trục xuất và biện pháp tạm giữ người, áp giải người vi phạm theo thủ tục hành chính.

Nghị định này áp dụng đối với: Người có hành vi vi phạm pháp luật hành chính bị tạm giữ theo thủ tục hành chính; người có hành vi vi phạm pháp luật hành chính bị áp giải; người nước ngoài có hành vi vi phạm pháp luật Việt Nam mà theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính phải bị trục xuất; người có thẩm quyền áp dụng hình thức xử phạt trục xuất; người có thẩm quyền tạm giữ người theo thủ tục hành chính; người có thẩm quyền đang thi hành công vụ thực hiện việc áp giải người vi phạm theo quy định.

Ngoài ra, Nghị định còn áp dụng đối với các cơ quan, đơn vị, tổ chức khác có liên quan đến việc áp dụng hình thức xử phạt trục xuất, biện pháp tạm giữ người, áp giải người vi phạm theo thủ tục hành chính và quản lý người nước ngoài vi phạm pháp luật Việt Nam trong thời gian làm thủ tục trục xuất.

Về việc xử phạt trục xuất đối với người nước ngoài vi phạm pháp luật Việt Nam, Nghị định quy định đối tượng áp dụng hình thức xử phạt này là cá nhân người nước ngoài có hành vi vi phạm hành chính trong phạm vi lãnh thổ, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; trên tàu bay mang quốc tịch Việt Nam, tàu biển mang cờ quốc tịch Việt Nam bị áp dụng hình thức xử phạt trục xuất theo quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính và các nghị định của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong các lĩnh vực.

Người có thẩm quyền áp dụng hình thức xử phạt trục xuất được thực hiện theo quy định tại khoản 6, điểm đ khoản 7, khoản 9 Điều 8 Nghị định số 189/2025/NĐ-CP ngày 1/7/2025 của Chính phủ quy định chi tiết Luật Xử lý vi phạm hành chính về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính.

Nghị định gồm 6 chương, 44 điều, có hiệu lực thi hành từ ngày 1/4/2026 và thay thế Nghị định số 142/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ quy định hình thức xử phạt trục xuất, biện pháp tạm giữ người, áp giải người vi phạm theo thủ tục hành chính và quản lý người nước ngoài vi phạm pháp luật Việt Nam trong thời gian làm thủ tục trục xuất.

Đồng thời, bãi bỏ Điều 66 Nghị định số 282/2025/NĐ-CP ngày 30/10/2025 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng, chống bạo lực gia đình.

  1. Quy trình thu thập, sử dụng dữ liệu thu được từ thiết bị kỹ thuật do cá nhân, tổ chức cung cấp để phát hiện vi phạm hành chính

Chính phủ mới ban hành Nghị định số 61/2026/NĐ-CP quy định về danh mục, việc quản lý, sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ và quy trình thu thập, sử dụng dữ liệu thu được từ phương tiện, thiết bị kỹ thuật do cá nhân, tổ chức cung cấp để phát hiện vi phạm hành chính. Nghị định có hiệu lực từ ngày 1/4/2026.

Nghị định số 61/2026/NĐ-CP nêu rõ các hành vi bị nghiêm cấm gồm: Lạm dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ, phương tiện, thiết bị kỹ thuật, kết quả thu được bằng phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ, phương tiện, thiết bị kỹ thuật để xâm phạm quyền tự do, danh dự, nhân phẩm, đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình, các quyền và lợi ích hợp pháp khác của cá nhân và tổ chức.

Sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ không đúng mục đích, không đúng thẩm quyền hoặc không tuân thủ quy trình, quy định, quy tắc nghiệp vụ theo quy định của pháp luật.

Cố ý hủy hoại, làm hư hỏng phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ; cản trở, hạn chế hoặc vô hiệu hóa tính năng kỹ thuật của phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ.

Giao phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ cho cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân không có thẩm quyền quản lý, sử dụng.

Sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ không bảo đảm đúng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật theo quy định hoặc chưa được kiểm định, hiệu chuẩn, thử nghiệm về đo lường theo quy định của pháp luật.

Chiếm đoạt, chiếm giữ, sử dụng trái phép phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ, kết quả, dữ liệu thu được từ phương tiện, thiết bị kỹ thuật đó.

Làm giả, làm sai lệch, hủy hoại kết quả, dữ liệu thu được bằng phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ, phương tiện, thiết bị kỹ thuật.

Lạm dụng việc tiếp nhận, thu thập dữ liệu để chiếm giữ, sử dụng trái phép phương tiện, thiết bị kỹ thuật của cá nhân, tổ chức.

  1. Giao hiệu trưởng cấp bằng tốt nghiệp THPT

Bộ GD-ĐT vừa ra Thông tư số 10/2026/TT-BGDĐT, ban hành Quy chế văn bằng, chứng chỉ của hệ thống giáo dục quốc dân, có hiệu lực thi hành từ ngày 15.4.2026.

Theo đó, có những nội dung mới đáng chú ý: thay việc cấp bằng tốt nghiệp THCS bằng xác nhận hoàn thành chương trình THCS trong học bạ; giao hiệu trưởng cấp bằng tốt nghiệp THPT; bổ sung bằng trung học nghề; bổ sung hình thức văn bằng số, chứng chỉ số; đồng thời mở rộng phạm vi điều chỉnh bao gồm cả văn bằng, chứng chỉ của giáo dục nghề nghiệp.

Bộ GD-ĐT cho biết, thông tư cũng thay thế toàn bộ các quy định về văn bằng, chứng chỉ trước đây được ban hành rải rác ở nhiều văn bản của Bộ GD-ĐT và Bộ LĐ-TB-XH.

Cũng theo quy chế mới, thời hạn cấp bằng tốt nghiệp THPT (giấy) được rút ngắn từ 75 ngày xuống còn 30 ngày; thời hạn cấp văn bằng, chứng chỉ số là 5 ngày kể từ ngày có quyết định công nhận tốt nghiệp.

  1. Thành lập và ban hành Quy chế hoạt động Quỹ phòng thủ dân sự Trung ương

Thủ tướng Chính phủ vừa ban hành Quyết định số 9/2026/QĐ-TTg ngày 6/3/2026 thành lập và ban hành Quy chế hoạt động Quỹ phòng thủ dân sự trung ương.

Quyết định nêu rõ: Thành lập Quỹ phòng thủ dân sự trung ương để tiếp nhận, quản lý, sử dụng các nguồn đóng góp tự nguyện của các tổ chức, cá nhân trong nước, ngoài nước; nguồn điều tiết từ Quỹ phòng thủ dân sự cấp tỉnh về Quỹ phòng thủ dân sự trung ương theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ và nguồn điều tiết từ các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách có liên quan đến hoạt động ứng phó, khắc phục hậu quả sự cố, thảm họa.

Quỹ Phòng thủ dân sự trung ương do Bộ Quốc phòng quản lý.

Địa vị pháp lý của Quỹ theo quy định tại khoản 1 Điều 23 Nghị định số 200/2025/NĐ-CP ngày 9/7/2025 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng thủ dân sự.

Bộ máy quản lý Quỹ sử dụng quân nhân thuộc Bộ Quốc phòng do Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quyết định.

Quyết định quy định nguyên tắc hoạt động của Quỹ như sau: Quỹ hoạt động không vì mục đích lợi nhuận.

Quản lý, sử dụng đúng mục đích, đúng pháp luật, kịp thời, hiệu quả, bảo đảm công khai, minh bạch, tiết kiệm, hiệu quả.

Hỗ trợ cho các hoạt động phòng thủ dân sự mà ngân sách nhà nước chưa đầu tư hoặc chưa đáp ứng yêu cầu.

Việc điều tiết giữa Quỹ phòng thủ dân sự và các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách có liên quan đến hoạt động ứng phó, khắc phục hậu quả sự cố, thảm họa được thực hiện trong trường hợp cấp bách.

Quyết định số 9/2026/QĐ-TTg có hiệu lực từ ngày 20/4/2026.

Đặt lịch hẹn tư vấn