Hotline: (+84-4) 3990.9309 Liên hệ
English French
Nghiên cứu- Tham khảo

Án lệ ở các nước - Bài 1: Cơ chế xét xử linh hoạt

Cập nhật: 19-01-2013 11:00:01

Án lệ ở các nước - Bài 1: Cơ chế xét xử linh hoạt

Ở các nước theo truyền thống “common law” (thông luật), phán quyết của tòa thường viện dẫn các bản án tương tự trước đó để áp dụng, thay vì phụ thuộc hoàn toàn vào quy định sẵn có của pháp luật.

Đó là đặc trưng cơ bản của cơ chế xét xử theo án lệ mà Việt Nam đang xem xét áp dụng.

LTS: TAND Tối cao vừa có quyết định ban hành đề án phát triển án lệ để chuẩn bị cho việc hình thành án lệ trong hoạt động xét xử. Đây là bước đi cụ thể đầu tiên sau bảy năm kể từ khi Nghị quyết 49 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp giao nhiệm vụ cho TAND Tối cao nghiên cứu chế định này.

Pháp Luật TP.HCM xin giới thiệu một số kinh nghiệm về việc hình thành và áp dụng án lệ ở các nước.

Các luật sư ở Mỹ thường có rất nhiều việc để làm, bởi ngoài “rừng luật” mà cơ quan lập pháp ban hành ra, họ còn phải tra cứu hàng trăm ngàn án lệ được công bố từ hàng trăm năm trước để làm cơ sở bảo vệ cho thân chủ trước tòa. Tuy vậy, năm 1997, họ đã thất bại trong việc bảo vệ bà May Jones ở tòa án bang California, khi các công tố viên viện dẫn một án lệ để buộc tội bà đã làm ảnh hưởng đến trật tự công cộng.

Đó có thể là một phán quyết kỳ quặc với bà Jones, bởi mọi việc bà làm chỉ đơn giản là báo cảnh sát về chuyện bà bị mất ví khi đi mua sắm ở siêu thị và mô tả nhân dạng của người đàn ông mà bà cho là thủ phạm. Điều oái oăm là chiếc ví đã được nhân viên siêu thị tìm thấy sau đó và thực tế đã không có vụ trộm cắp nào xảy ra. Bà Jones không thể nào ngờ được rằng một người phụ nữ tên Elizabeth Manley, trước đó 64 năm, cũng dính vào một vụ án tương tự và vụ án đó trở thành án lệ để xét xử những người như bà. Cả hai người đều bị cho là làm tốn kém nguồn lực của cảnh sát một cách vô ích và đẩy những người vô tội vào rủi ro pháp lý.

Án lệ ra đời như thế nào?

Mặc dù được biết đến nhiều như một đặc trưng của hệ thống pháp luật Mỹ, án lệ lại có một lịch sử dài gấp nhiều lần lịch sử nước Mỹ. Hầu hết các sử gia đều nhất trí rằng truyền thống xét xử theo án lệ đã ra đời từ những cuộc tranh luận của các thẩm phán Anh từ thế kỷ XII. Đây là những thẩm phán của tòa án Hoàng gia, đại diện cho nhà vua để đi xét xử tại các địa phương trên khắp nước Anh.

Ban đầu, các thẩm phán lưu động này xét xử theo luật pháp và tập quán riêng của địa phương nơi xảy ra vụ án, thay vì theo pháp luật của Hoàng gia. Đây là một nỗ lực của một Hoàng gia được cai trị bởi những người Norman (gốc Pháp), đã xâm lược nước Anh từ thế kỷ XI nhưng vẫn tôn trọng các truyền thống đang hiện hữu tại đây.

Vào mùa đông, các thẩm phán tạm ngừng công việc xét xử và trở về London. Tại các cung điện của thành phố này, họ thảo luận với nhau về các vụ án đã và đang được xét xử. Một điểm bất hợp lý nhanh chóng được phát hiện: Do xét xử theo luật pháp và tập quán địa phương, các vụ án như nhau tại các địa phương khác nhau cho ra đời các phán quyết khác nhau. Vô hình trung, điều này tạo ra sự bất bình đẳng giữa người dân ở các địa phương.

Hiểu được sự bất hợp lý này, các thẩm phán dần dần phân tích và chọn lọc ra các vụ án được xét xử dựa trên những lập luận hợp lý để làm khuôn mẫu xét xử cho các vụ án tương tự về sau này, không phân biệt địa phương. Điều này được duy trì trong một thời gian dài, đến mức trở thành một nguyên tắc cơ bản trong hoạt động xét xử của các thẩm phán Anh. Các án lệ dần trở thành “luật chung” được thừa nhận và áp dụng trên toàn Vương quốc Anh. Cho đến khi nước Anh trở nên hùng mạnh và thống trị thế giới trong suốt hai thế kỷ XVII-XIX, truyền thống pháp luật này cũng được “xuất khẩu” theo các chiến thuyền và thương thuyền Anh đi khắp nơi trên thế giới như Mỹ, Canada, Úc, Hong Kong, Ấn Độ... Nước Mỹ cũng thành công trong việc áp đặt truyền thống pháp luật đó ở Philippines.

Ngày nay, dưới áp lực của quá trình toàn cầu hóa, các quốc gia theo truyền thống luật dân sự cũng đang tìm cách thích nghi với cơ chế xét xử theo án lệ này. Nhìn một cách tổng thể, án lệ là đặc trưng của các quốc gia theo truyền thống pháp luật “common law” (thông luật), bên cạnh một truyền thống pháp luật lớn khác là “civil law” (luật dân sự), với các nước như Pháp, Đức, Nga, Trung Quốc, Việt Nam... Truyền thống pháp luật “civil law” hầu như không chấp nhận án lệ như một nguồn luật dùng làm căn cứ xét xử, mà dựa chủ yếu trên các văn bản pháp luật do nhà nước ban hành.

Linh hoạt và thực tiễn

Trên thực tế, án lệ được coi là cách thức kịp thời và linh hoạt nhất để khắc phục các lỗ hổng của hệ thống pháp luật. Nước nào cũng có một cơ quan lập pháp làm nhiệm vụ ban hành các đạo luật, tuy nhiên dù ưu tú đến mấy, các nhà làm luật cũng không thể dự trù được hết các tình huống phát sinh trong xã hội. Sự kín kẽ của hệ thống pháp luật ở các nước theo truyền thống “civil law” phụ thuộc hoàn toàn vào các văn bản pháp luật và công dân có thể “lách” qua các lỗ hổng mà không có chế tài nào trừng phạt được.

Ở các nước theo truyền thống án lệ, việc lách luật khó khăn hơn nhiều, bởi các thẩm phán được quyền sáng tạo và giải thích pháp luật trong quá trình xét xử. Nghĩa là khi gặp phải một vụ án mà quy định của pháp luật chưa điều chỉnh đầy đủ, thường được gọi là các vấn đề giải quyết lần đầu, thẩm phán sẽ tìm cách trám lỗ hổng hoặc các điểm bất hợp lý của pháp luật bằng những phán quyết riêng của mình. Vụ án của bà Elizabeth Manley được đề cập ở đầu bài là một ví dụ.

Ở một án lệ khác, tòa án lại làm nhiệm vụ giải thích pháp luật để bảo vệ các quyền của công dân trước các cáo buộc vi phạm. Năm 1984, Gregory Lee Johnson, một người biểu tình chống chính quyền Ronald Reagan, đã đốt quốc kỳ Mỹ tại hội nghị quốc gia của Đảng Cộng hòa và bị một tòa án ở bang Texas kết án về tội xúc phạm các vật linh thiêng của nước Mỹ. Tuy vậy, đến năm 1989, Tòa án Tối cao Liên bang kết luận rằng hành vi đốt cờ của Johnson là một phần mở rộng của Tu chính án số 1 của Hiến pháp Mỹ và được cho là hợp hiến. Vụ án này trở thành án lệ và đã làm thay đổi đường lối xét xử cũng như pháp luật của các bang.

Tuy nhiên, không phải khi nào một án lệ cũng được áp dụng cho các vụ án tương tự về sau, khi các thẩm phán có cơ sở để lập luận rằng chúng đã lỗi thời và không còn hợp lý. Vụ án Brown kiện Hội đồng Giáo dục là một ví dụ điển hình.

Oliver Brown là cha của cô gái Linda Brown, một nữ sinh da đen ở bang Kansas (Mỹ). Vào thời điểm năm 1951, các trường công ở Mỹ vẫn còn phân biệt chủng tộc và buộc người da màu phải học trong những trường tách biệt với học sinh da trắng. Cô bé Linda Brown phải đi bộ gần 3 km mỗi ngày để đến trường dành cho học sinh da màu, thay vì học ở một trường tiểu học gần nhà vốn chỉ dành cho học sinh da trắng. Cha của Linda đã nhiều lần nộp đơn xin học cho con vào các trường gần nhà nhưng đều bị từ chối. Ông kiện Hội đồng Giáo dục thành phố ra tòa án bang nhưng thất bại, bởi tòa án bị buộc phải tuân theo một án lệ có từ năm 1896 (Plessy kiện Ferguson), vốn cho phép các công ty xe lửa thiết kế các toa dành riêng cho người da trắng.

Vụ án được đưa ra Tòa án Tối cao Liên bang và đến năm 1954, các thẩm phán tuyên bố sự phân biệt này vi phạm quyền được bảo vệ bình đẳng trước pháp luật theo Tu chính án thứ 14 của Hiến pháp Mỹ. Điều này cũng có nghĩa là án lệ Plessy kiện Ferguson cũng bị bãi bỏ cùng với cơ chế phân biệt chủng tộc trong hệ thống giáo dục Mỹ.


Án lệ ở các nước - Bài 2: Trí tuệ thẩm phán thành luật

Hiệu lực của một án lệ phụ thuộc vào ba yếu tố cơ bản: thẩm quyền của tòa án, nội dung phán quyết và thủ tục công nhận án lệ.

Ở các nước theo truyền thống án lệ, mỗi ngày có hàng ngàn vụ án được xét xử nhưng chỉ có rất ít vụ án trở thành án lệ và được coi là khuôn mẫu cho các vụ án tương tự về sau.

Không phải tòa nào cũng được ban hành án lệ

Ở hầu hết các quốc gia theo truyền thống án lệ, phán quyết tòa án ở cấp thấp nhất (tòa cơ sở) không được coi là án lệ. Ở Anh, đó là hệ thống tòa địa hạt (county court), ở Mỹ là tòa án địa phương cấp tiểu bang, ở Úc là tòa án quận. Các thẩm phán ở các tòa án địa phương này phải tuân theo các án lệ do các tòa án cao hơn ban hành.

Nguyên tắc hiệu lực của án lệ là phán quyết được coi là án lệ của tòa án cấp cao hơn thì có giá trị bắt buộc với tòa án cấp thấp hơn. Điều này làm phát sinh ra một tình huống: Án lệ của tòa tối cao tiểu bang ở Mỹ hay Úc sẽ có giá trị bắt buộc với các tòa án địa phương cấp tiểu bang hay tòa án quận nhưng sẽ không có giá trị bắt buộc với các tòa án cấp liên bang. Bản thân các tòa án ban hành ra án lệ cũng có thể tuân theo án lệ của mình hoặc không, nếu họ có đủ lập luận để bác bỏ án lệ đó.

Tại Úc, trong vụ R kiện L năm 1991, Tòa án Tối cao liên bang phải bác bỏ một án lệ có từ hơn 200 năm trước và đã từng được chính tòa này áp dụng năm 1933 trong vụ Barlett kiện Barlett. Nội dung của án lệ này cho rằng việc chồng hãm hiếp vợ không phải là tội phạm và không bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Tuy vậy, đến năm 1991, Tòa án Tối cao liên bang cho rằng nó không còn phù hợp với trình độ phát triển của xã hội Úc nữa và tuyên bố bác bỏ.

Ở Úc, các thẩm phán tòa cấp bang không có nghĩa vụ phải tuân thủ các án lệ của bang khác, tuy nhiên việc viện dẫn án lệ của bang khác như một lập luận có tính tham khảo thì lại diễn ra phổ biến. Kể từ năm 1986, các thẩm phán ở Úc không còn phải tuân thủ các án lệ của Anh (vốn áp dụng theo một đạo luật do Nghị viện Anh ban hành năm 1828 nhằm áp đặt pháp luật Anh cho các thuộc địa), tuy nhiên các bên tham gia tố tụng ở Úc vẫn viện dẫn án lệ của Anh, thậm chí của Mỹ, Canada, New Zealand để tham khảo. Mặt khác, nếu vụ án liên quan đến luật liên bang, án lệ của một bang có giá trị bắt buộc đối với các vụ án tương tự ở các bang khác.

Lập luận của thẩm phán là yếu tố quan trọng

Nhìn chung, một án lệ chỉ ra đời trong hai trường hợp: Một là khi chưa có luật điều chỉnh vụ án mà tòa đang xét xử, hoặc đã có luật nhưng chưa đầy đủ và chưa dự liệu được tình huống phát sinh, thẩm phán sẽ sáng tạo luật để điều chỉnh các vụ án tương tự. Hai là có luật nhưng chưa rõ ràng và cụ thể, thẩm phán sẽ làm nhiệm vụ giải thích pháp luật để áp dụng cho vụ án cụ thể. Điều đó có nghĩa là một phán quyết chỉ có thể được coi là án lệ nếu nó giải quyết những vấn đề pháp luật mới.

Bởi vì phải giải quyết các vấn đề pháp luật mới, một án lệ phải chứa đựng những lập luận đủ sức thuyết phục của các thẩm phán, hay còn được gọi là quan điểm của các thẩm phán về vấn đề pháp luật đó.

Trong vụ Wickard kiện Filburn năm 1943, pháp luật thương mại Mỹ đã hoàn thiện thêm một bước với các lập luận của thẩm phán Tòa án Tối cao về quyền thương mại. Theo đó, Filburn, chủ một trang trại nhỏ, bị phạt 117,11 đôla vì đã trồng 239 giạ lúa trên phần ruộng của mình để "tự cung tự cấp" và làm ảnh hưởng đến hoạt động thương mại giữa các tiểu bang. Mặc dù Filburn lập luận rằng hoạt động của ông chỉ là sản xuất chứ không bán ra thị trường, không liên quan đến hoạt động tiếp thị và phân phối nên không thể gây ảnh hưởng đến thị trường và không được áp dụng các quy định của luật thương mại. Tuy vậy, tòa án lại lập luận rằng nếu Filburn trồng và tiêu thụ lúa mì của mình, ông sẽ làm ảnh hưởng đến nguồn cung lúa mì, không mua lúa mì từ thị trường và điều này ảnh hưởng đến sự ổn định về giá của thị trường. Nếu các chủ trang trại nhỏ đều làm như vậy thì sẽ ảnh hưởng lớn đến thương mại giữa các tiểu bang.

Không coi là án lệ nếu chưa công bố

Dù hội đủ các yếu tố về thẩm quyền cũng như nội dung quan điểm xét xử, một phán quyết vẫn không được coi là án lệ nếu nó không được lưu trữ và công bố. Anh quốc thành lập Ủy ban Xuất bản báo cáo pháp luật với chức năng ghi chép một cách chi tiết các tình tiết của vụ án và quan điểm của thẩm phán cũng như phán quyết sau cùng của tòa. Một số phán quyết sẽ được cơ quan có thẩm quyền cân nhắc lựa chọn để trở thành án lệ và sau đó xuất bản trong các báo cáo pháp luật (law reports), được công bố công khai để toàn dân tham khảo.

Ở Úc, các tập san án lệ gồm Commonwealth Law Reports (CLR), Australia Law Report (ALR) và Australian Law Journal Reports (ALJR). Ở Mỹ, người dân có thể truy cập vào cơ sở dữ liệu điện tử của các tòa án hoặc những dịch vụ tư nhân như Findlaw, Westlaw để tra cứu các án lệ; hoặc ở Ấn Độ là Indian Supreme Court Law Reporter (ISCLR), All India Reporter (AIR) hay Supreme Court Cases (SCC).

Tại Việt Nam, TAND Tối cao cũng xuất bản các tuyển tập quyết định giám đốc thẩm của Hội đồng Thẩm phán trong việc xem xét lại các bản án và có giá trị tham khảo đối với các thẩm phán. Như vậy là, mặc dù Việt Nam chưa phải là nước theo truyền thống án lệ và chưa thừa nhận án lệ như một nguồn luật nhưng trên thực tế các án giám đốc thẩm được các thẩm phán tòa cấp dưới xem như một tham khảo mẫu mực trong xét xử và có thể cân nhắc việc áp dụng hay không.

Không chứng minh được thì phải tuyên vô tội

George Gould và Ronald Taylor bị kết án vào năm 1995 về tội giết Eugenio Deleon Vega, chủ một cửa hiệu tạp hóa ở New Haven, bang Connecticut, Mỹ. Ông Vega được phát hiện bị bắn vào đầu và bị trói bằng một sợi dây điện trong một thùng làm lạnh ở phía sau cửa hàng. Nhân chứng chính là một cô gái điếm nghiện ma túy tên là Maureen Stiles. Tại phiên tòa năm 1995, cô này khai rằng cô nhìn thấy hai người đàn ông da đen - một cao lớn và một nhỏ con - xông vào cửa hiệu ra lệnh ông Vega mở két và sau đó nghe thấy một tiếng súng. Nhờ các bức ảnh của cảnh sát, sau 6 giờ thẩm vấn, cô nhận dạng được Gould và Taylor.

Tháng 3-2010, nhân chứng nói trên bất ngờ thay đổi lời khai, thừa nhận mình bị thám tử xúi giục nên mới khai bậy. Đổi lại, thám tử đã thưởng cho cô tiền, một chuyến nghỉ mát và ma túy. Từ đó, tòa đã tuyên hai bị cáo vô tội. Nhưng bên công tố lại kháng cáo vì cho rằng hai bị cáo có tội và rằng, nếu hai bị cáo vô tội thì phải “tự chứng minh bằng chứng vô tội rõ ràng và thuyết phục”. Tháng 8-2011, tại tòa tối cao của bang, các luật sư đã đề nghị vận dụng án lệ vụ Miller để tuyên vô tội cho hai bị cáo. Theo án lệ này, do bị cáo Miller đã đưa ra bằng chứng ngoại phạm của mình thuyết phục được tòa nên tòa đã tuyên vô tội. Cuối cùng, do không chứng minh được nên tòa đã tuyên hai bị cáo Gould và Taylor trắng án.

Án lệ mới về hình ảnh

Cô gái Nichole Catsouras, 18 tuổi ở quận Cam bang California (Mỹ) bị tai nạn ô tô và qua đời cuối tháng 10-2006. Tai nạn kinh hoàng đã làm thi thể cô gái biến dạng khủng khiếp. Cảnh sát công lộ California đã chụp nhiều hình ảnh hiện trường để phục vụ điều tra. Không rõ bằng cách nào, chỉ vài ngày sau những hình ảnh khủng khiếp này lan tràn khắp trên Internet và gây sốc cho gia đình cô gái.

Gia đình Catsouras khởi kiện cảnh sát công lộ California lên Tòa án quận Cam nhưng bị một thẩm phán tòa án này bác vì cho rằng không có lý do chính đáng để kiện. Năm 2010, gia đình cô gái tiếp tục nộp đơn lần hai lên tòa án này. Lần này thẩm phán khác thụ lý đơn kiện và cho rằng cảnh sát công lộ đã thiếu trách nhiệm trong việc bảo vệ quyền riêng tư của gia đình cô Catsouras. Tòa đã lên lịch đưa vụ kiện ra xử vào tháng 3-2012 với lợi thế thuộc về gia đình cô Catsouras. Tuy nhiên, để khỏi phải ra tòa, cảnh sát công lộ California đã dàn xếp bồi thường cho gia đình cô gái gần 2,4 tỉ USD cùng cam kết sẽ cố gắng ngăn chặn hình ảnh thi thể nạn nhân lan truyền trên mạng. Đây được xem là một án lệ mới ở bang California.

Án lệ ở các nước - Bài 3: Phải nghĩ bản án mình xử là án lệ

Với những vấn đề pháp luật chưa điều chỉnh, khi xử, nếu thẩm phán lập luận sắc bén, có tính thuyết phục cao thì có thể sẽ được công nhận là án lệ.

Nguyên Thẩm phán Tòa án Liên bang Úc ông Michael Moore, người từng làm ra nhiều án lệ khi còn công tác tại Tòa Lao động - tòa chuyên trách của Tòa án Liên bang Úc, chia sẻ riêng với Pháp Luật TP.HCM kinh nghiệm làm ra một án lệ mẫu mực.

Số ít vẫn thành chân lý

Ông Michael Moore kể khi còn làm thẩm phán Tòa Lao động ông từng làm chủ tọa phiên tòa sơ thẩm xử một vụ tranh chấp liên quan đến luật lao động. Một doanh nghiệp nọ sa thải một người lao động nên người này khởi kiện yêu cầu chủ doanh nghiệp phải nhận lại mình. Tại tòa, bị đơn nói không đồng ý nhận lại nguyên đơn nhưng sẽ vẫn trả lương cho người này, coi như đã nhận lại và đáp ứng mọi quyền lợi về vật chất theo quy định pháp luật. Lý do bị đơn đưa ra là dù biết việc sa thải trái luật nhưng vì… không muốn nhìn mặt nguyên đơn nữa nên không thể nhận người này lại.

“Đề nghị này được hai thẩm phán trong hội đồng xử án chấp thuận và biểu quyết trước khi đưa ra phán quyết. Về phần mình, tôi ra sức thuyết phục hai đồng nghiệp rằng phán quyết như vậy không hợp lý. Bởi hiểu đúng nghĩa sử dụng lao động thì người chủ phải tạo việc làm cho người lao động bằng cách cho họ làm việc và trả lương. Nếu chỉ chấp nhận trả lương mà không cho họ làm việc thì ý nghĩa của quan hệ hai bên sẽ không đạt được. Cạnh đó, trường hợp này còn ảnh hưởng đến dư luận và trật tự xã hội, tạo tiền lệ xấu cho các doanh nghiệp khác làm theo. Do đó tòa phải buộc doanh nghiệp nhận người lao động trở lại và phải giao việc đồng thời trả lương xứng đáng cho anh ta. Tuy nhiên, do tòa phán quyết theo số đông nên ý kiến của tôi bị bác bỏ” - ông Moore chia sẻ.

Tất nhiên nguyên đơn kháng cáo. Lúc này, Tòa Phúc thẩm Tòa án Tối cao Liên bang Úc nhận định phán quyết trên là một vấn đề pháp lý mới, chưa có tiền lệ nên phải giải quyết mẫu mực để thành án lệ cho các trường hợp sau này.

Khi xét xử, hội đồng thẩm phán (gồm bảy người) của tòa phúc thẩm đã ra phán quyết theo hướng phân tích của ông Moore, bác bỏ lập luận của hai thẩm phán kia. Theo tòa, không thể chấp nhận phương án vì mâu thuẫn nhau mà người sử dụng lao động chỉ trả lương mà không cho nguyên đơn làm việc. Bởi như vậy nó không phù hợp với nghĩa vụ của chủ thể sử dụng lao động theo luật. Từ đó, nhận định của ông Moore trở thành tiền lệ cho những tranh chấp có nội dung tương tự.

Đến nay thì án lệ này tại Úc vẫn chưa được thay thế bởi một bản án khác. Vì vậy, án lệ này được các thẩm phán trên toàn lãnh thổ nước này áp dụng khi xử các vụ án tương tự.

Phải dự liệu các tình huống pháp lý trong án lệ

Theo ông Michael Moore, ngoài việc xét xử thì thẩm phán làm án lệ phải biết tiên lượng các tình huống pháp lý giả định có thể phát sinh trong thực tiễn, nếu không bao quát hết thì sẽ rất phức tạp khi xét xử sau này.

Ông Moore kể năm trước đây nhiều người lo ngại chuyện tài xế vừa lái xe vừa nghe điện thoại di động sẽ dễ gây tai nạn, trong khi pháp luật chưa coi đây là tội phạm. Sau đó Bộ luật Hình sự bang New South Wales đã sửa đổi theo hướng bổ sung hành vi sử dụng điện thoại khi lái xe sẽ bị phạt tối đa 1.000 đôla Úc và bị phạt tù không quá ba tháng; ngoài ra người phạm tội còn có thể bị treo hoặc hủy bằng lái (Điều 114). Nhiều người sau đó đã bị tòa án xử phạt.

Nhưng rồi có một tài xế bị tội này đã phản đối vì cho rằng mình chỉ nghe điện thoại trong lúc xe đang dừng vì kẹt xe cứng ngắc. Lý luận là vậy nhưng ông ta vẫn bị tòa kết án. Sau khi kháng cáo, tòa tối cao của bang đã lập luận: “Ý nghĩa của từ đang lái xe là việc mô tả hành vi điều khiển phương tiện theo hướng chuyển động tiến lên hoặc lùi lại. Vì thế, nếu phương tiện đứng yên thì tài xế không bị coi là đang lái xe…”. Cuối cùng, tòa bác phán quyết trên, tuyên người đàn ông không bị tội. Bản án này trở thành án lệ để giải quyết cho hơn 100 trường hợp tương tự mà các tòa cấp dưới đang chuẩn bị xử.

Được một thời gian thì tháng 7-2003, Tòa án liên bang (cấp trên của Tòa Tối cao bang) đã công bố một phán quyết hoàn toàn ngược lại. Theo đó, tòa này lập luận: “Không vì một thời điểm nào đó xe đứng yên mà kết luận người ngồi trên xe không lái xe. Khi đang nói chuyện điện thoại, người đó không thể kiểm soát được tình hình. Nếu các xe khác tiến lên thì xe của anh ta cũng phải tiến nhưng lúc này anh ta đang nghe điện thoại nên có thể đưa ra hành động sai lầm, dễ gây tai nạn. Chẳng hạn vì mải nghe điện nên tài xế vào số mạnh quá khiến xe đâm vọt lên, tông vào xe phía trước, gây tai nạn. Do đó phải hiểu khái niệm đang lái xe với nghĩa rộng như vậy thì mới đảm bảo được mục đích của luật”. Từ đó, bản án này lại trở thành án lệ và phủ quyết án lệ trước đó.

Ít lâu sau, một tài xế bị cảnh sát bắt vì lái xe bằng một tay còn tay kia thì đang bấm điện thoại nhắn tin. Tại tòa, ông này không nhận tội vì cho rằng mình không có hành vi nghe điện thoại như luật quy định. Thẩm phán thấy lập luận này có lý nên tuyên ông ta vô tội. Cơ quan công tố kháng nghị và được tòa cấp trên chấp nhận.Tòa ban hành án lệ mới theo hướng phải xử cả những người dùng điện thoại để nhắn tin khi đang lái xe.

Một thời gian sau cơ quan công tố lại truy tố một lái xe dùng máy laptop nhỏ đặt trên bảng đồng hồ của ô tô để gọi điện thoại qua Skype trong khi lái xe. Người này lại tranh luận luật chỉ cấm gọi điện thoại di động chứ đâu có cấm nói chuyện qua Skype…

Theo ông Moore, bài học rút ra là khi ban hành án lệ phải tiên liệu được hết các tình huống pháp lý phát sinh, nếu không án lệ đó sẽ không bền vững.

Biết đâu bản án mình xử thành án lệ

Ông Moore nói ông không nhớ trong 20 năm làm thẩm phán mình đã xử bao nhiêu vụ và đã tạo ra bao nhiêu án lệ. Nhưng ông ước tính có khoảng 20% trong tổng số án của ông đã được Tòa án Tối cao Liên bang Úc chọn làm án lệ.

Nước Úc theo mô hình tố tụng tranh tụng nên có những vụ án phiên tòa phải kéo dài hằng tuần, có khi hằng tháng mới xong. Việc viết bản án của thẩm phán chủ tọa cũng khá công phu, phải có phần nhận định dài và thuyết phục, toàn bộ bản án lúc tuyên có khi dài khoảng 50 trang giấy, trong đó phần lập luận phải chuẩn mực, sắc bén. “Bạn phải chú trọng nó bởi biết đâu bản án của bạn sẽ thành án lệ để các tòa áp dụng theo” - ông Moore nói.

Theo ông Moore, “trong cuộc đời làm thẩm phán bạn có thể gặp hàng ngàn vấn đề pháp lý mới phát sinh từ thực tế, đó là nguồn để chúng ta không ngừng phát triển án lệ. Nhưng không phải bản án nào của tòa tối cao xử cũng có thể trở thành án lệ. Nó phải xuất phát từ những nguyên tắc pháp lý quan trọng hoặc vấn đề pháp luật mới, chưa có văn bản luật nào quy định. Lúc đó, vấn đề mới trong án lệ sẽ trở thành luật để các thẩm phán áp dụng sau đó. Tuy nhiên, cũng có trường hợp tòa cấp dưới không xử theo án lệ của cấp trên vì cho rằng án lệ đó không thuyết phục. Khi đó, thẩm phán cấp dưới có thể đưa ra lập luận riêng của mình. Và nếu cấp trên xét thấy lập luận này đúng, thuyết phục thì bản án đó lại trở thành án lệ mới”.

Vài nét về ông Michael Moore

Ông Michael Moore sinh năm 1952 tại Úc. Năm 39 tuổi ông trở thành thẩm phán của Tòa (chuyên trách) Lao động Tòa án Liên bang Úc. Năm 44 tuổi ông làm thẩm phán Tòa án Liên bang cho đến khi nghỉ hưu (năm 2011).

Ông Moore cộng tác với TAND Tối cao nước ta từ năm 1999 trong các chương trình hợp tác tư pháp giữa hai chính phủ Đan Mạch và Việt Nam (ông được mời tham gia với tư cách chuyên gia, dù ông là người Úc). Hiện ông là thành viên của chương trình hợp tác về phát triển án lệ tại Việt Nam.

Án lệ ở các nước - Bài cuối: “Án lệ ngầm” ở Việt Nam

Ở Việt Nam đã và đang tồn tại một hình thức án lệ tạm gọi là “án lệ ngầm” vì các thẩm phán chỉ ngầm hiểu với nhau khi vận dụng xét xử mà không được viện dẫn công khai vào bản án.

Ở nước ta, án lệ đã và đang tồn tại dưới các hình thức như các nghị quyết hướng dẫn xét xử, trao đổi nghiệp vụ tại các buổi tổng kết ngành và dễ thấy nhất là thông qua các quyết định giám đốc thẩm được tập hợp và phát hành. Qua đây, nhiều vướng mắc đã được Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao gỡ vướng và định hướng cho các tòa cấp dưới làm theo.

Sao cho thấu lý đạt tình

Năm 2006, Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao có quyết định giám đốc thẩm một vụ tranh chấp dân sự về lấn chiếm quyền sử dụng đất và không gian giữa ông T. với bà K. Sau này, nhiều tòa cấp dưới đã ngầm coi đây là một án lệ và xử theo đường lối của bản án này.

Số là bà K. đã lấn chiếm đất thuộc quyền sử dụng của ông T. Khi bà K. xây nhà, bà đã làm kiềng trên móng nhà của ông T. nhưng ông T. không phản đối trong suốt thời gian từ khi khởi công cho đến lúc hoàn thành (bốn tháng). Do nhà bà K. là nhà cao tầng, đã xây dựng hoàn thiện, giờ nếu buộc bà phải dỡ bỏ và thu hẹp lại công trình thì sẽ gây thiệt hại rất lớn cho bà.

Xử vụ này, tòa cấp phúc thẩm đã không buộc bà K. phải tháo dỡ phần tường nhà đè lên phía trên móng nhà ông T. mà chỉ buộc bà bồi thường bằng tiền. Trong quyết định giám đốc thẩm, Hội đồng Thẩm phán cho rằng tuyên xử như thế là hợp tình hợp lý. Sau này khi gặp vụ án tương tự, các thẩm phán đều “liên tưởng” đến vụ này và tuy không nói ra nhưng ai cũng vận dụng đường lối thấu lý đạt tình đó để xét xử.

Có điều, nội dung hướng dẫn trong “án lệ” nói trên chỉ thể hiện hướng giải quyết trong vụ việc cụ thể giữa ông T. và bà K. nên nó còn thiếu tính khái quát pháp lý. Sẽ là thuyết phục nếu trong quyết định có một đoạn có nội dung giống như một điều luật (không đề cập tới một chủ thể cụ thể như ông A, bà B) để các tòa cấp dưới áp dụng theo. Khi đó quyết định trên có thể được coi là một án lệ mẫu mực.

Một chuyện khác, Bộ luật Dân sự (BLDS) nước ta quy định nghĩa vụ cấp dưỡng đối với người thân của người có tính mạng bị xâm phạm là cho đến khi chết nếu người được hưởng cấp dưỡng là người đã thành niên và cho đến khi đủ 18 tuổi nếu người được hưởng cấp dưỡng là người chưa thành niên hay đã thành thai. Tuy nhiên, BLDS lại không cho biết nghĩa vụ này bắt đầu vào thời điểm nào nên các tòa rất lúng túng. Sau đó, một quyết định giám đốc thẩm của TAND Tối cao phân tích: Theo tinh thần quy định tại Điều 616 BLDS và hướng dẫn tại Nghị quyết số 01/2005/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao thì trong trường hợp cụ thể này, thời điểm phát sinh nghĩa vụ cấp dưỡng phải được tính từ ngày người bị hại chết.

Dù không nói ra nhưng đây được coi là “hướng dẫn” để các tòa án áp dụng khi xét xử và xét ở góc độ khoa học, rõ ràng nó như một án lệ.

Gỡ vướng vấn đề pháp lý mới

Trước đây người ta tranh luận nhiều về vấn đề giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và giấy chứng nhận sở hữu nhà ở có phải là tài sản không. Để giải quyết vấn đề này, tại quyết định giám đốc thẩm vào tháng 4-2011, Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao quyết: Pháp luật không xác định hai loại giấy trên là loại giấy tờ có giá, nên theo quy định tại Điều 163 BLDS thì nó không phải là tài sản và không được phép giao dịch, trao đổi. Sau đó, “án lệ” này đã được Tòa Dân sự TAND Tối cao “áp dụng” theo trong một vụ việc khác.

Tương tự, Điều 679 BLDS quy định con riêng và bố dượng/mẹ kế nếu có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng nhau như cha con/mẹ con thì được thừa kế di sản của nhau. Nhưng đối chiếu với Điều 776 BLDS thì không biết người con riêng này được đứng ở đâu trong ba hàng thừa kế (trong trường hợp thừa kế theo pháp luật). Thực trạng này làm phát sinh những quan điểm trái chiều nhau. Trong một quyết định giám đốc thẩm (năm 2009), Tòa Dân sự TAND Tối cao đã lập luận: Con riêng của vợ có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng với bố dượng nên người con này được coi như con ruột của ông bố dượng, tức được đứng vào hàng thừa kế thứ nhất (của bố dượng). Đây được coi là một án lệ vì sau đó các tòa án địa phương đều xét xử theo hướng này.

* * *

Thực tiễn cho thấy có rất nhiều vấn đề pháp lý phát sinh cần phải giải quyết nhưng không phải lúc nào văn bản pháp luật cũng điều chỉnh kịp thời. Trong những tình huống này, sự xuất hiện của án lệ là cần thiết để tạo sự an tâm cho người dân, giúp tòa án áp dụng pháp luật thống nhất.

Thời xưa nước ta đã có án lệ

Trong kỹ thuật lập pháp của người xưa, bên cạnh các bộ luật chính thức, Nhà nước còn ban hành các “lệ” hay “lệnh” để hướng dẫn đường lối xét xử khi luật còn thiếu sót, chưa quy định đủ mọi góc cạnh chi tiết hoặc có quy định mà chưa rõ. Các triều đại quân chủ Việt Nam thường áp dụng cách làm này.

Thí dụ, dưới thời nhà Lê, niên hiệu Hồng Đức, vua Lê Thánh Tông đã tận dụng kỹ thuật “làm cho pháp luật đầy đủ, dễ hiểu” bằng cách ghi tóm lược lại những bản án đã được các quan xử án rồi, chọn ra làm tiền lệ điển hình để về sau cứ noi theo đó mà xử các trường hợp tương tự. Cụ thể như trong Bộ luật Hồng Đức, các Điều 396, 397 về việc phân chia điền sản hương hỏa thực chất là những bản án được tóm lược lại, chép kèm vào bộ luật.

Hồng Đức thiện chính thư (cũng là bộ luật khá nổi tiếng của nhà Lê) đã ghi tóm lược lại nhiều bản án. Xin chép lại nguyên văn một bản án đã được ban bố ngày 20-4 năm Hồng Đức thứ bảy (1476), có tựa là “Không chồng mà có chửa”:

Ngày nọ có cô con gái đóng cửa kén chồng. Cô ta mới lớn, xuân tình phát triển, một hôm gặp anh học trò muốn kết thành vợ chồng mà không dám tỏ tình. Khi đó có người hàng xóm nghèo khổ, cô ta trong bụng không ưng nhưng tình dục khó át đi, bèn thông dâm với người đó, dẫn đến có thai. Cha mẹ cô ta biết chuyện bèn tra hỏi cô. Cô ta thấy việc không thể giấu, đành kể thực tình. Cha mẹ cô ta tức giận vì thấy người kia nghèo khổ bèn vu cho anh học trò và phát đơn kiện. Người học trò đó khai rằng: Không hề có chuyện đó, chính là cô ta thông dâm với người hàng xóm nghèo khổ, xin bắt anh ta đến để đối chất. Quan khám án căn cứ vào luật phân xử rằng: Việc người con gái thông dâm xảy ra nơi kín đáo, lại không khám nghiệm được, khó mà có bằng cớ, ý muốn nói là không có bằng cớ để xử theo pháp luật. (…)

Nay thần - Lương Thế Vinh - xét trong luật nhà Minh có nói rằng: Xét về tình không có dấu tích nên dễ vu oan, nếu không bắt được quả tang thì việc đó không có bằng cớ và chỉ là lời khai người nào đó thông dâm với mình. Nếu lời khai không có bằng chứng thì đều không xét tội. Gian phụ có thai thì ở phía gian phụ là có bằng chứng, mà ở phía nam phu lại không có bằng chứng, chỉ có thể xử gian phụ cái tội thông gian… Căn cứ vào những điều đó, kính cẩn tâu xin ban bố điều lệ để thi hành”. (Một số văn bản điển chế và pháp luật Việt Nam từ thế kỷ XV đến XVIII, NXB Khoa học xã hội, 2006, lệ 8, trang 474-475).

Đầu thế kỷ XIX, ở nước ta, trong Bộ luật Gia Long cũng có nhiều điều lệ (án lệ) được chép kèm theo các điều luật nên mới có tên chính thức là Hoàng Việt luật lệ.

Việc dùng bản án đã xử trước làm tiền lệ để xét xử các vụ việc xảy ra sau quả là một kỹ thuật lập pháp hay. Các bản án này do các phán quan vận dụng kiến thức pháp luật của mình vào tình huống thực tế để xét xử, qua đó đưa ra đường lối xử lý chung, bổ sung vào những ngóc ngách pháp lý mà pháp luật dù hoàn hảo thế mấy cũng không sao đủ được. Đó là truyền thống xử lý các tranh chấp của người phương Đông vốn có từ ngàn xưa.

Án lệ quả là một thứ “luật” đắc dụng. Nó không phải chỉ riêng các nước phương Tây mới có mà nó là kỹ thuật pháp lý chung, thành quả khoa học pháp lý tiến bộ của loài người.

PGS-TS ĐỖ VĂN ĐẠI (*)

 
Nguồn: phapluatvn.vn
bí mật, thông tin cá nhân, bí mật đời tư, danh dự, nhân phẩm, người làm chứng, tâm lý học, phòng chống tội phạm, Thạc sĩ, Luật sư Phạm Thanh Bình, Công ty Luật Hồng Hà, Vnexpress, công an nhân dân, vụ án, bị can, bị cáo, người chưa thành niên, Luật sư bào chữa, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Tư pháp, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, Bộ luật tố tụng hình sự, người tham gia tố tụng, người bị hại, điều tra, truy tố, xét xử, Bộ luật hình sự, Steve Jobs, Bộ luật tố tụng dân sự, Bộ luật dân sự, khởi kiện, tranh chấp, thụ lý, hòa giải, lao động, hành chính, kinh tế, đất đai, ly hôn, tài sản, thừa kế, khu đô thị mới, căn hộ, ranh giới, cơ quan tiến hành tố tụng, Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán, tâm lý học, phòng chống tội phạm, bí mật, thông tin cá nhân, bí mật đời tư, danh dự, nhân phẩm, người làm chứng, vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, người đại diện hợp pháp, từ chối, các biện pháp ngăn chặn, bắt, tạm giữ, tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm, gia hạn thời hạn tạm giữ, tạm giam, hậu quả xấu, lấy lời khai, hỏi cung, thời gian, địa điểm, cán bộ chuyên trách, cán bộ trợ giúp, tư vấn về pháp lý, y tế, độ tuổi, tình trạng tâm lý, sức khỏe, xét xử lưu động, còng tay, phương tiện, cưỡng chế, phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, rất nghiêm trọng do cố ý, tiêu cực, chống đối, gây mất trật tự tại phiên toà, đại diện của gia đình bị cáo, hình phạt, miễn trách nhiệm hình sự, phạt tù, án treo, trắng án, giám sát, tái hòa nhập cộng đồng, người làm chứng, quyền nhờ luật sư, bào chữa viên nhân dân, thu thập chứng cứ, lấy lời khai, kiểm tra dấu vết, chụp ảnh thương tích, ghi âm, ghi hình, xét xử kín, xâm phạm tình dục trẻ em, mua bán trẻ em, tham khảo, chứng khoán, phá sản, cổ phiếu, cổ phần, giao dịch đáng ngờ, kinh doanh bất động sản, giao dịch bất thường, hồ sơ, nhà đất, giả mạo, thông tin, nhân thân, ủy quyền, giá thị trường, , Cảnh sát phản ứng nhanh, điện thoại di động, khẩn cấp, ngoại tình, đăng ký xe, hợp đồng vô hiệu, nhà đất, tranh chấp, bản án có hiệu lực, điều kiện thi hành án, con ngoài giá thú, thuế thu nhập cá nhân
Ý kiến bạn đọc (0)
Ý kiến của bạn
Họ và tên :
Email của bạn :  *
Mã bảo vệ :    (*)
Tiêu đề :
Nội dung :  *
          
Các tin khác: